
Category Archives: Từ Thung Lũng lá rơi
Bánh lá
Bánh lá
Có ai còn nhớ thứ bánh đơn giàn mộc mạc nầy không ?
Khi tôi lớn lên trong vùng chợ quê thì thứ bánh nầy đã không còn thường xuyên hiện diện. Tôi có diễm phúc sinh ra và lớn lên bên cạnh dòng Sông Hậu, nơi được ưu đãi từ các điều kiện sinh sống cho đến tài nguyên thiên nhiên bất tận.
Mùa hè nghĩ học, tôi thường về thăm quê Ngoại. Được đi vào tận kinh cùng nước xoáy, Cờ Đỏ, Ngã tư, Trà Ếch …Bánh lá là thứ bánh đơn sơ trong vùng quê heo hút đó mà tôi được ăn lần đầu tiên .
Rạng ngày, dì mang gạo đã ngâm từ tối qua ra xay. Chiếc cối xay đẻo từ phiến đá xanh, dùng từ bao lâu nay đã bóng lóang như đá mài. Chiếc cối là vật dụng là gia tài luôn sống cùng người nội trợ từ chái lá cho đến nhà bếp khang trang. Chiếc cối xoay đều nhả ra dung dịch bột trắng ngần. Lá mơ trong vườn đã hái và rửa sạch, đâm nát cho vào xay chung với bột gạo. sau đó thì cho tất cả vào bồng vải mịn dùng chính sức nặng của cối đá để dằn lên cho thoát nước ra.
Bọn trẻ chúng tôi có nhiệm vụ ra sau nhà hái lá mít rửa và lau khô. Bột gạo sau khi dằn biến thành khối có màu xám nhạt, dì dùng nước nóng để nhồi bột cho bột mềm và dẽo lại, bấy giờ thì dì dạy chúng tôi viên nắn rồi trét bột vào lá, bột càng mòng thì bánh sẽ mềm và được khen khéo tay. Bánh hấp chin gờ ra ăn với nước cốt dừa.
Chiếc bánh mộc mạc của tuổi thơ trong cuốn phim ký ức là một trong kỷ niệm không phai mờ
Năm mươi năm sau, gặp nhau đất mới, nhìn những chiếc lá mơ tam thể noãn nà, chị bạn hỏi ” Bà có nhớ bánh lá không vậy ? ”
” Có ! ” Thế là chúng tôi cao hứng mang gói bột gạo khô mua ở chợ, cắt một cuộn dây lá mơ, tôi nghiệp cây ổi trồng mùa qua vừa lấy lại sức sau mùa lạnh lá đang ra lá xanh non. Thành quả của hành trình tìm lại tuổi thơ của chúng tôi là những chiếc bánh lá nằm trong dĩa bên cạnh chén nước cốt dừa điểm các đốm hành hương xanh xanh
Các đấng phu quân nhắm nháp chút men bia chờ đợi, sau khi trầm ngâm nếm, anh nầy nhìn anh kia…!!
Vũ Thị Thiên Thư
Chuông
Hy vọng
Mưa Xuân còn đọng
Chào Xuân
Puerto Vallata
Day 7 Fri Jan 9 2015 Puerto Vallata
Puerto Valarta là đất của Aztalan Indian vào khoảng 580 BC . Francisco Cortez khám phá ra vùng đất nầy từ 1525 khi cánh quân của ông đi dọc theo vùng núi chạy dài theo bờ Thái Bình Dương, ông vô tình tìm được một trong các vịnh lớn nhất của thế giới. Valarta biến thành hải cảng làm nơi tạm dừng và sửa chữa cũng như tạm ẩn cho tàu bè Tây Ban Nha qua lại vùng biển Thái Bình Dương trong khu vực nầy. Tuy vậy 300 năm sau, năm 1851 thì mới biến thành cảng trù phú nhờ buôn bán muối và khoáng chất. Nhưng thành phố vẫn chưa nổi tiếng thu hút và phát triễn cho đến khi John Huston dùng làm ngoại cảnh cho phin “ The Night Of The Iguana “ in the town on Villarta. Tiếp theo ông cùng với Richard Burton đã mang địa danh của thành phố biển nầy đến với Hollywood bằng cách xây nhà nghỉ mát Vallarta.
Thành phố cảng Valarta vẫn còn giữ lại nét cổ kính với những con đường nhỏ hẹp khảm đá trứng, những con dốc lên xuống theo sườn đồi. tiếng nhạc và lời ca của các ban hát dạo đưa du khách về công viên Malecon nằm sát bờ biển, với sóng xanh bát ngát tựa lung vào rặng núi Sierra Madre, nhìn xuống các tụ điểm như nhà hàng quán xá thương mãi, cuối bãi là Ngọn Hải Đăng El Faro, hiện nay biến thành một quán rượu hình khối tròn với 360 độ nhìn vào vùng vịnh đầy các du thuyền lớn nhỏ san sát nhau, tất cả màu sắc sinh hoạt như một bức tranh vẽ thật tuyệt mỹ.
Cuối điểm phía Nam của công viên Malecon và cũng là biếu tượng của hải cảng Vallarta, đó là Ngôi Thánh Đường Guadalupe, xây từ năm 1903 và trùng tu từ 1987. Có thể nói đây là điểm chính thu hút du khách cũng như dân địa phương. Phía ngoài Thánh đường là hai ngọn tháp và trên đỉnh Vương Miện cao chót vót, [ Xây theo hình tượng Vương Miện của Carlota, là thứ thiếp của Maximilian. ] Bên trong thánh đường vách gỗ trắng đơn sơ nhưng các cửa sồ bằng kính màu và bàn thờ bằng gỗ chạm trổ rất đạp đẽ công phu. Toàn thể nhà thờ thoát ra bầu không khí trang nghiêm, đèn nến lung linh tỏa ánh sáng dịu dàng du khách vào thăm bước chân nhẹ nhàng không muốn làm kinh động khoảng không gian an lành thánh thiện.
Một trong các mối liên hệ mật thiết với Hollywood của thành phố biển nầy là ngôi nhà do Richard Burton mua tặng cho Elizabeth Taylor nằm không xa Thánh đường Guadalupe, từ cửa ra rẻ sang phía trái của con đường Hildago và đi thẳng đến số 446 Zaragoza.
Viếng Puerto Vallarta không thể thiếu các lò sản xuất loại rượu nổi tiếng Tequila, qua các hướng dẫn viên du khách vào tận nơi để biết nhiên liệu cùng cách cất lấy thứ rượu thổ sản của Mexico. Đã ghé thăm cũng không quên nếm ly cà phê của địa phương pha chế với đường mía và quế bột hương vị thật nồng nàn đặc biệt. Một chi tiết khác về rượu Tequila, tin vui cho người bệnh tiểu đường : giống xương rồng Blue Agave dùng để cất rượu chứa một loại mật thực vật giúp cơ thể chống lại béo phì, loãng xương và tiểu đường. Tequila được xem như là chất rượu đều tiên sản xuất ờ Bắc Mỹ, vào thế kỷ thứ 16 ở thành phố Tequila, Jalisco sản xuất hàng loạt từ 1795 do Don Jose Cuervo cho đến bây giờ vẫn còn một trong các tên được nhiều người yêu chuộng.
Vì điạ thế đặc biệt của vùng biển ấm nầy, hàng năm từ tháng mười hai đến tháng tư các loại động vật như cá voi xám, cá voi xanh… tìm về đây làm nơi sinh sản. Vào các tháng nầy, một trong các điểm lôi cuốn du khách theo thuyền nhỏ ra khơi để săn ảnh, những nhiếp ảnh viên tài tử hay chuyên nghiệp đều mong muốn ghi lại được hình ảnh các chàng cá voi khổng lồ bắn những cột nước cao hàng thước cũng như các nàng cá voi xanh đang khoe khoang em bé đẹp của mình, chưa kể đến hình ảnh của từng đoàn Dolphin nối tiếp nhau như những lượn sóng nhấp nhô. Ngoài ra các loài cá nược [ Dolphin ] , hải cẩu , chim chóc…từ miền bắc tụ họp về đây trốn lạnh. Chim chàng bè, hải âu, chim cánh đen, cò trắng… trông chúng đứng im lìm trên mõm đá nhưng không thể hình dung sự khéo léo nhanh nhẹn cho đến khi chứng kiến cảnh chúng đang bay từ trên cao và chúi thẳng xuống mặt nước như mũi tên xé gió, khi chúng ngoi đầu trở lên trên mỏ bao giờ cững kẹp lấy một con cá vô phúc. Nhìn vào đôi mắt trong suốt của chúng, rất khó mà hình dung chúng có thể nhìn thấu suốt mặt nước để thấy được các giống cá đang bơi lội, và chỉ với một chớp mắt chúng đã bay nhanh qua mặt nước để chộp lấy cơ hội bắt mồi.
Puerto Valarta nằm dựa trên sườn đồi, từ trên đinh nhìn xuống bờ cát dài, sóng nước biển xanh biếc, đã qua bao nhiêu thế kỷ, bao nhiêu mùa giông bão, nhưng cuộc sống của người dân vẫn thầm lặng với thiên nhiên, những chuỗi đảo phương tiện giao thông chính là thuyền nhỏ, những bãi biển hoang sơ vắng lặng, nước trong như gương ngọc, tất cả như một khúc nhạc hòa tấu của thiên nhiên diệu kỳ mà chỉ có bàn tay của tạo hóa mới có thể thực hiện được.
Tử giã Mexico, hải trình 1463 hải lý sẽ mang khách về lại vùng Vịnh nổi tiếng Kim Môn kiều một khung cảnh khác, một tâm tình khác .
Vũ Thị Thiên Thư
La Paz [ Hòa Bình ]
Day 6 Thurday Jan 8 La Paz [ Hòa Bình ]
La Paz có nghĩa là Hòa Bình
Bắt đầu từ thế Kỷ thứ 16 khi Tây Ban Nha bắt đầu gởi các đoàn tàu bè đi chinh phục thế giới theo các hải trình đông tây, Herman Cortez đã tìm ra lục địa Mexico với hy vọng sẽ tìm ra bạc vàng châu báu để mang về chính quốc. Ông nghe đồn là bán đảo bí hiểm bên bờ Tây bao phủ với Vàng . Sau khi tàu lọt vào vùng vịnh êm ái xanh biếc của vùng bán đảo, ông thành lập làng mạc và đặt tên là Santa Cruz [tên gọi cũ của La Paz] dùng làm căn cứ cho công việc tìm kiếm kho vàng. Sau khi khám phá vùng đất ven biển, thất vọng vì không tìm được El Dorado [ con đường khảm vàng lá ] ông trở về Tây Ban Nha tay trắng.
Sáu mươi năm sau, Sebastian Vizcaino đổ bộ lên vùng đất nầy và cải tên thành La Paz .
Tên gọi Hòa Bình, nhưng cuộc đất nầy không có lúc nào an lành. 1565 Tây Ban Nha mở hải trình thương mãi từ Philippines cho nên hải tặc của Anh Pháp, Hòa Lan thường ẩn núp trong vịnh La Paz để tấn công các đoàn thương thuyền chở nặng hàng hóa của Tây Ban Nha.
Song song với các Giáo sĩ đi truyền đạo trong vùng Baja, họ thành lập nhiều Mission nhưng mãi đến 1720 thì mới tìm đến nơi nầy, để rồi 30 năm sau cũng phải rời bỏ vì điều kiện khí hậu quá khắc nghiệt, không thuận lợi cho canh nông, cũng như thổ dân luôn tấn công khuấy rối.
Với một quá trình chiến tranh như thế, mãi đến 1811 thì mới hoàn tất việc định cư và 20 năm sau La Paz biến thành thủ phủ của Baja California.
1970 là năm đánh dấu La Paz trên bản đồ thế giới, khi các khoa học gia nghiên cứu về thủy tôc thiên nhiên của vùng biển Thái Bình Dương, các thể tháo gia, chuyên viên lặn… khám phá ra các ưu điểm thiên nhiên của vùng biển La Paz để biến thành phố nhỏ nầy thành một tụ điểm quan trọng tên bản đồ
Jacque Courteau nhiếp ảnh gia dưới lòng biển đặt Vịnh Sea of Cortez là The Aquarium of the Word [ Hải học viện thế giới ] do các sinh vật hiếm có và kỳ lạ đang sinh sống nơi nầy. [ Angle fish, cá dạ quang, lươn biển, rong biển Coral và hải cẩu ….
Một trong những điểm thu hút du khách đến thăm thành phố Hòa Bình là cơ hội để gặp gỡ các loại động vật bị săn đuổi gần như tận tuyệt. Con số cá voi hiện nay đang được phục hồi chưa có thống kê chính xác, nhưng du khách có thể dùng thuyền nhỏ để đi dọc theo các bờ biển ngắm các nàng Cá Voi đang diễn hành khoe thành tích [ Cá voi mẹ sau khi thụ thai thì bơi về Mexico để sinh con và nuôi dưỡng con. Cá con được mẹ nuôi nấng một năm từ vùng biển ấm rồi theo mẹ làm cuộc hành trình ngược về Alaska. ]
Cá voi xanh và xám là loài thủy tộc nhưng lại cần khí trời để hô hấp,giống như loài cá nược, trong khi đó cá mập khổng lồ [ Whale shark ? ] thì không cần phải trồi lên để thở khí trời, ngoài ra khi cá bơi thì dùng đuôi quạt nước từ phải sang trái, trong khi cá voi thì giống như cá nược thuộc họ động vật thì dùng đuôi uốn cong lên và hạ xuống.
Ngoài thủy tộc vùng vịnh Paradise Cove còn là nơi các loại chim muôn thiên di hàng năm tránh mùa đông Bắc Mỹ. Chim chàng bè chiếm ngụ các cầu tàu, chúng như những người phu quét dọn, chờ ngư phủ về để ăn sạch các thứ cá thặng dư thài ra trên bến như xương, da, kỳ, …Nhưng không chỉ chờ đợi các thức có sẵn, bầy chàng bè cũng giống như các chàng xiếc biểu diễn nhào lộn trên không trung, trước mắt các du khách đang tản bộ trên công viên, các chú đang bay từ trên cao lao thẳng xuống mặt biển như mũi tên, sau khi nổi lên là bìu cổ no nưỡng các mạch nhồi nén chú cá vô phúc vừa biến thành bữa ăn ngon.
La Paz ngoài địa thế thiên nhiên còn là một vùng đất lịch sử với nhiều sắc dân cư qua các thời đại ảnh hưởng các nguồn văn hóa. Dân chúng địa phương gần như 80% theo Công Giáo. Nằm ở trung tâm là Thánh Đường của Nữ Vương Hòa Bình [ Catheral of Our Lady of Peace ] xây từ năm 1861, nằm trên một chủng viện đã bỏ hoang hơn 140 năm của các giáo sĩ từ thời Spanish. Thánh đường cũng là nơi thu hút khách viếng, với các cửa sổ làm bằng kính màu và pho tượng Nữ Vương Hòa Bình cũng đầy màu sắc.
Ngoài ra, từ 1533 vùng vịnh La Paz đã nổi tiếng là thủ phủ sản xuất Ngọc Trai của bán đảo Baja, với những “ Queen of the Gem “ chưng bày trong Regional Anthropology anh History Museum . Rất tiếc là hiện nay hiện nay ngọc trai đã khai thác gần như tận tuyệt.
Vũ Thị Thiên Thư
[ Tiếp theo ]
Loreto
Day 5 Wed Jan 7 2015 Loreto
Từ Cabo San Lucas đến Loreto mất 258.4 hải lý, tàu đi suốt đêm, rạng ngày đã thấy bến cảng thấp thoáng sau những rặng núi nhuộm màu khói xanh lam .
Herman Cortez trên đường đi tìm vàng sau khi đã cày nát vùng nội địa Mexico, ông đã hai lần đến vùng bán đảo dọc theo bờ biển [ Sea of Cortez ] Cả hai lần ông đi dò dẫm nhưng không tìm được El Dorado cho nên ông trở lại Tây Ban Nha tay không vào năm 1541.
Mãi 160 năm sau thì Tây Ban Nha một lần nữa trở lại vùng bán đảo nầy. Padre Juan Maria Salvatierra đồng hành cùng với Pho tượng Đức Mẹ Đồng Trinh và các nhà truyền giáo đã đến lập ngôi làng đạo Âu Châu đầu tiên trên vùng đất mới Californias vào năm 1697 và đặt tên Loreto là tên gọi của pho tượng nầy . Thành phố Loreto biến thành thủ đô của Tôn giáo và Hành chánh cho bán đảo hơn 140 năm. Cũng như các thành phố nằm trong chuỗi đảo nầy, thiên tai động đất và bão biển thường xuyên đe dọa, Loreta bị bão quét sạch nên thủ đô phải dời về La Paz.
Loreto biến thành một làng đánh cá an lành cho đến sau Thế Chiến thứ hai, khi săn cá trở thành một môn thể thao của thế giới, các thợ săn nghề nghiệp cũng như tài tử đổ về đây đã biến khu làng nhỏ nầy thành điạ điểm mới trên bản đồ.
Vào thế kỷ 17 và 18, các nhà truyền giáo Franciscans và Dominicans đã xây dựng 18 khu làng đạo dọc theo chuỗi bán đảo Baja California. Thánh Đường Our lady of Loreto là thánh đường đầu tiên xây từ năm 1730. Làng Đạo với Baroque –Style, mặt tường đá, tháp của chuông cao vút trong trung tâm thành phố, bên trong thờ Tượng Đức Mẹ, chưng bày tranh sơn dầu đã được trùng tu…Thánh đường còn là khởi đầu của “ El Camino Real “ hay Vương lộ [ Royal road] Con đường nguyên thủy của Spanish Mission chạy dài từ bắc Somona California Hoa Kỳ cho đến cuối điểm của Baja California Mexico.
Thành phố San Javier bên cạnh với thành đường thứ nhì xây từ 1744 bằng phún xuất thạch của Sierra Gigantra Mountains. Hiện nay vẫn còn hoạt động.
Nguồn tài nguyên vô tận của biển cung cấp các loại hải sản cho Loreto và phục vụ du khách, từ cá nướng, mực tươi, trứng cá hay sò ốc…do ngư dân hàng ngày mang đến.
Trong trung tâm thành phố, khu Plaza lót gạch rộng rãi một bầy thiếu niên nam nữ đang xếp vào đội hình trình diễn, với lời giới thiệu của xướng ngôn viên, các màn nhảy múa thật đẹp để chào đón du khách, và giới thiệu các nét văn hóa đạc thù của địa phương, không khí vui chơi lễ lạc vẫn kéo dài dưới ánh mặt trời trưa đứng bóng.
Vũ Thị Thiên Thư
[ Tiếp thep ]
Cabo San Lucas
Day 4 Tuesday Jan 6 2015 Carbo San Lucas
Sau khi vượt qua hơn ngàn hải lý [ 1,150.4 Nautical miles ] tàu cập bến cảng đầu tiên của Mexico : Cabo San Lucas với Khung cửa đá thiên nhiên nổi tiếng.
Theo truyền thuyết 1587 Thomas Cavendish đã chiến thắng chiếc tàu Santa Ana nổi tiếng của Tây Ban Nha chở đầu báu vật, sau khi lầy 450 tấn, ông đã đốt cháy và đánh đắm chiếc thuyền vào đáy vịnh. Mặc dù kho tàng và xác chiếc tàu chưa tìm ra, nhưng Cabo còn vô số các báu vật tìm ẩn khác.
Cabo là đất của thổ dân bộ lạc Pericu cho đến khi Dân Âu châu tìm đến vào khoảng 1542, vù địa thế của bán đảo và vùng vịnh khuất sâu, hải tặc thường xuyên ra vào làm nơi chôn giấu các báu vật chiếm được. Đến thế kỷ 19 thì thành lập làng chài bến tàu do nguồn lợi chính là cá thu rất phong phú trong vùng biển nầy đã được ngư dân tìm đến.
1941 cơn bão biển dữ dội của Thái Bình Dương đã thổi sạch làng mạc bến cảng, nhưng nhờ vào tài nguyên thiên nhiên phong phú đã lôi cuốn các người thợ săn cá lớn cũng như các diễn viên Hollywood đã tìm đến làm thay đổi hẳn bộ mặt của Cabo, biến thành một nơi nghĩ hè vui chơi cho người giàu có cho đến bây giờ. Các tên tuổi lớn như Bing Crosby, John Wayne, Phil Harris, Desi Arnaz xây một Khách sạn ở Cabo San Lucas vào cuối thập niên 40, tiếp theo 1951 John Steinbeck cho ra cuốn “ Log from the sea of Cortez “ kể lại cuộc phiêu lưu của ông và nhà Hải dương học Ed Ricketts.
Cabo qua bao nhiêu lần tàn phá do bão biền từ Thái Bình Dương, tháng tư qua 2014 là trận càn quét gần nhất, dấu vết còn dọc theo các building chỏng chơ không tường không nóc, chưa kể đến những cửa hàng chưa kịp hồi phục, cửa đóng im lìm.
Cabo vẫn cố giữ lại hình ảnh dễ thương của thảnh phố nhỏ với đường phố lót gạch, hai hàng dừa cao, người dân Mễ Tây Cơ rất yêu chuộng màu sắc, từ kiến trúc cho đến y phục, trang sức… đều dung nhiều màu sắc rực rỡ.
Không thể thiếu món Pescado Taco [ Baja-style fish, shrimp taco, tôm, cá nhúng bột chiên dòn gói trong bánh bột cán mỏng { tortilla } trên mặt trải bắp cải thái nhỏ, sốt trái bơ, và cream ] và tráng miệng với những thanh Churro tẩm bột đường quế.
Vũ Thị Thiên Thư










